Tái Chương Trình // Re-programme

praxis 8
 
Bài dịch đoạn mở đầu cách đây khoảng 1 năm nói về khái niệm Programme  trong Kiến trúc.
 
Dịch Praxis 8 : Re-Programme // Introduction by Amanda Reeser Lawrence / Ashley Schafer
 
Tái Chương Trình
 
Lời mở đầu của Amanda Reeser Lawrence/ Ashley Schafer
 
Praxis 8
 
Khoảng 12 tháng sau khi quyết định dành ấn phẩm mới của Praxis cho chủ đề phổ biến nhất trong kiến trúc, chúng ta vẫn tự hỏi chính mình: Vậy, suy cho cùng chương trình ( program) là gì? Việc đặt câu hỏi về tình trạng của khái niệm ‘chương trình’ trong thời điểm hiện tại – khoảng 30 năm sau khi khái niệm này được làm sống lại khỏi (việc bị vùi dập của*) chủ nghĩa công năng kiện đại – nhanh chóng trở thành một cuộc thám hiểm vào mê cung luẩn quẩn và khu vực gây tranh cãi. Chúng ta càng cố giải thích ‘chương trình’ là gì và việc nó hoạt động thế nào trong khuôn khổ của kiến trúc đương đại thì khái niệm này càng trở nên trơn trượt và khó nắm bắt. Trong khi đa số kiến trúc sư nhìn chung nhìn nhận ‘chương trình’ theo cách thực dụng nhất – một danh sách sử dụng và yêu cầu rõ ràng rành mạch, thường được đi kèm bởi định lượng trên mét vuông (m2) – định nghĩa về chương trình như một bản ‘brief’ này không bao quát được tất cả ẩn ý và hệ quả mà khái niệm này đã làm ảnh hưởng trong hoạt động kiến trúc. Vượt ra khỏi cách hiểu đơn giản hóa và phổ cập hóa này là tổ hợp của một loạt các tư tưởng phức tạp, mơ hồ và đặc biệt là chúng đối nghịch lẫn nhau. Chúng ta nhận ra rằng chỉ việc nhắc đến khái niệm này thôi cũng thường khơi mào cho một cuộc tranh luận liên quan đến sự thích hợp và xác đáng của khái niệm này.
 
Cuộc tranh luận về tầm ảnh hưởng và tính ứng dụng của ‘chương trình’, như một cân nhắc trong quá trình thiết kế, là không đáng ngạc nhiên khi chúng ta đánh giá tình trạng mơ hồ của khái niệm này trong nửa cuối của thế kỷ 20. Tại thời điểm của giữa những năm 1970, tư tưởng hậu hiện đại đã loạt bỏ hoàn toàn khái niệm ‘chương trình’ khỏi nghiên cứu kiến trúc, khi mà mối liên hệ quá đáng của nó với đặc tính ‘tuyệt định’ của tư tưởng công năng hiện đại đã làm kiệt quệ sự cần thiết của khái niệm này với người kiến trúc sư. Đối với những kiến trúc sư thuộc giai đoạn đầu của công năng hiện đại, chương trình chỉ đơn giản là công năng, và với quá trình thiết kế khi mà phom hình thành theo Công Năng thì cũng như vậy, phom được hình thành theo chương trình. Cách nhìn nhận sau chiến tranh, khi mà hiệu quả và năng suất được đề cao, quyết định mối quan hệ mật thiết giữa phom và công năng và quyết định này chỉ làm dẫn đến quá trình chuyển thế trực tiếp, gần như tuyệt đối từ chương trình thành phom – cái mà John Summerson gọi là ‘điều kiện vật chất cần có cho hiệu suất thích hợp của một công năng cụ thể’. Kết quả của sự việc trên đã đẩy tư tưởng tân cấp tiến hậu hiện đại đến hành động chối bỏ ‘chương trình’ như một vết tích lỗ thời của tư tưởng công năng hiện đại.
 
Chính tình trạng mất giá trị này của chương trình là nơi mà Bernard Tschumi và Rem Koolhaas đã phục hồi và cho chương trình một đặc tính ‘bất định’ mà nó duy trì trong suốt 30 năm qua. Coi Mahattan như một phòng thí nghiệm, Tschumi và Koolhaas cùng lúc nhưng tách biệt, báo quát lại khái niệm ‘Chương trình’ và nhận thức lại ứng dụng của nó bằng việc coi nó là một trung gian và đẩy chương trình quá giới hạn của nó. Trong cả Mahattan Transcripts và Delirious NewYork (1978) ‘chương trình’ được giải phóng khỏi liên hệ của nó với tư tưởng công năng và khỏi mối quan hệ của nó với phom. Như Tschumi đã viết, ‘ trong thế giới hiện tại khi mà một ga tàu hỏa có thể trở thành bảo tàng và nhà thờ có thể trở thành club, mọi thứ đã quá rõ ràng: sự hoán đổi hoàn toàn của phom và công năng, công năng không theo phom và phom cũng chẳng theo công năng.’ Chính những suy nghĩ đang được hình thành này đã trao trả lại cho ‘chương trình’ một vai trò trong quá trình hình thành không gian (quá trình thiết kế) và ngược lại, đưa ra khả năng mà trong đó một phom hay không gian nhất định có thể chứa bất cứ chương trình nào. Định nghĩa mới này của chương trình gần như đối nghịch hoàn toàn với một chương trình cứng nhắc khác của giai đoạn công năng hiện đại: chương trình có thể được giao nhau ( nhảy sào trong nhà thờ) , chồng lên nhau ( cầu thủ bóng bầu dục nhảy tango trên sân trượt băng), đặt cạnh nhau ( ăn tu hàu với găng tay bóng chày và nằm trần chuồng trên tầng n) hoặc có thể được tái triển khai ( sử dụng mặt cắt của câu lạc bộ thể dục Downtown như mặc bằng cho La Villete )
 
Khi mà quá trình nghiên cứu và phát triển khái niệm ‘ chương trình’ của Tschumi và Koolhaas có nhiều điểm tương đương, nghiên cứu của hai người thể hiện rõ những sự khác biệt rõ ràng về phom/hình thức và nội dung. Transcript của Tschumi được triển khai dưới hình thức bản vẽ mang tính chất học thuật đi kèm với văn bản viết thì Retroactive Manifesto của Koolhaas là một văn bản viết mang tính báo cáo có đi kèm với bản vẽ mang tính hư cấu. Koolhaas thiết lập một quan điểm chung, hình-thức-không-quan-trọng khi nói đến chương trình: tất cả các loại chương trình, cho dù khác nhau đến đâu cũng đều bị lệ thuộc bởi cùng một logic về phom ( trong cuộc thi La Villete Koolhaas thiết lập một seri các dải không gian không thay đổi về kích thước và không bị ảnh hưởng bởi các chương trình các không gian này chứa) Phom là chung chung, nhưng chương trình là cụ thể. Trong phương án La Villete của Tschumi thì ngược lại, phom là cụ thể, chương trình là chung chung. Hệ thống chia ô phân chia bởi các folly đỏ không có một chương trình nào cả; phom và công năng hoàn toàn có thể được hoán đổi. Cùng với nhau, cả hai nghiên cứu trở nên quan trọng khi mà chúng thay đổi ‘chương trình’ từ một công cụ tuyệt định của không gian ( mà thường là phom) trở thành không xác định, đưa ‘chương trinh’ trở lại vai trò của một công cụ trong quá trình thiết kế.
 
Nếu như các nghiên cứu về chương trình dường như không còn có được tiềm năng căn bản hay ảnh hưởng như thập kỷ 70 thì chỉ đơn giản là vì chúng đã bị thấm hoàn toàn vào văn hóa kiến trúc đương đại. Do vậy, chúng tôi cảm thấy đủ nợ những người nghiên cứu về ‘chương trình’ để bắt đầu ấn phẩm này bằng việc phỏng vấn họ về những dự án nghiên cứu trong giai đoạn này vì việc họ thay đổi nhận thức của chúng ta về khái niệm ‘chương trình’ là không thể bàn cãi. Gần 30 năm sau khi những nghiên cứu của họ được cụ thể hóa: những ‘sự kiện-không gian’ của Tschumi, từ trung tâm Lerner Hall đến không gian trung tâm của trường Kiến trúc Marne hay Thư Viện Cộng Đồng Seatle của Koolhaas. Những dự án này được cô đọng trong quá trình phát triển từ học thuyết về chương trình cho đến những ứng dụng của nó trong thực tế. Với việc các thử nghiệm tân cấp tiến của 30 năm về trước giờ được triển khai thành các công trình triệu đô, cơ hội mới cho việc đánh giá lại khái niệm ‘chương trình’ đã quay trở lại.
 
Vậy cơ hội nào tồn tại cho khái niệm chương trình trong hiện tại? Khi mà gần như tất cả các dự án kiến trúc đương đại đều coi chương trình là một bản brief, những dự án trong ấn phẩm này được coi là độc đáo đơn giản vì chúng vượt qua không chỉ giai đoạn hiện đại với đặc tính tuyệt định của chương trình mà chúng còn vượt qua cả đặc tính không định của nhưng dự án những năm 1970. Nếu như Tschumi và Koolhaas đặt lại vai trò của chương trình, từ việc hình thành tổ chức không gian – khi mà công năng được chuyển thể thành phom – đến việc phát sinh ra các chuỗi sự kiện tương quan – thích ứng cho các sự kiện không định trước – khái niệm chương trình một lần nữa có thể được mở rộng. Những kiến trúc sư trong ấn phẩm PRAXIS lần này đang thích ứng chương trình theo hai cách: một là bằng việc đặt ra câu hỏi với những hiểu biết kiến trúc về chương trình, kéo khái niệm chương trình ra khỏi mối tương quan với khái niệm công năng của tư tưởng hiện đại và hai là phát triển việc tổ chức và điều tiết vật chất và thông tin như một chương trình. Vỏ của công trình, công nghệ vật liệu, phom, bãi đất bỏ hoang, thậm chí hoạt động hành vi của con người v.v.. tất cả đều là nơi tiềm năng cho khái niệm chương trình được giải phẫu và phát triển…

Marie Jose Van Hee – Bối cảnh, Nghệ thuật và Kiến trúc Độc lập(?) / Context, Art and the Autonomous Architecture

tumblr_n7s5gmgHr61r9joiqo1_1280

Kiến trúc, như Văn Hóa, được hình thành trong quá trình bồi đắp lâu dài của lịch sử và xã hội. Như cách mà KTS Adam Caruso so sánh European city với một tổ hợp tri thức của nhân loại, thực hành  và suy nghĩ Kiến trúc cũng có thể được coi như điểm tụ hội của quá trình trao đổi, đánh giá và suy nghĩ của nhiều thế hệ KTS, đặt trong bất cứ bối cảnh nào. Quá trình nghiên cứu và phát triển của một KTS trẻ/ mới ra trường do đó bao gồm không chỉ sự thích ứng với những quan niệm đương thời mà còn đào bới là và hấp thụ tất cả những kiến thức được chắt lọc và lưu trữ từ quá khứ.  Sự định hình của một con người của tri thức ( và nhận thức) từ đó mà hình thành; Anh ta phát triển, đeo đuổi một  thứ gì đó lâu dài bằng việc ‘đứng trên vai những người khổng lồ của thế hệ trước’.

Trong thời điểm mà thế hệ KTS trẻ tại Bỉ như Office KGDVS (Bỉ) và Fala Atelier (Bồ Đào Nha) nhận được nhiều sự quan tâm của thế giới, có lẽ chúng ta cũng nên nhìn nhận lại một thế hệ tuy trầm lặng nhưng có ảnh hưởng lớn đến những văn phòng nói trên: Thế hệ KTS năm 1974 của học viện Sint Lucas tại Ghent mà nổi trội hơn cả có lẽ là Marie Jose Van Hee. Cùng với Marc Dubois, Christian Kieckensm và Paul Robbrecht, Marie thiết lập một luồng suy nghĩ độc lập và tự trị trong Kiến trúc của họ, chối bỏ tất cả những ảnh hưởng của Rem Koolhaas trong thời điểm thức thời và quay trở về nghiên cứu các công trình kinh điển của Paladio và của trường phái Baroque tại Ý. Nhóm coi trọng thái độ thiết kế dựa trên nghiên cứu ( research-based design) xuất phát từ những nghiên cứu về Architectural morphology và typology.

b-Zuidzande-by-Marie-Jose-Van-Hee-Architecten-David-Grandorge_dezeen_468_4

Zuidzande-by-Marie-Jose-Van-Hee-Architecten-David-Grandorge_dezeen_468_5

Zuidzande-by-Marie-Jose-Van-Hee-Architecten-David-Grandorge_dezeen_468_1

Tập trung vào các dự án nhà ở nhỏ, bảo tàng và không gian công cộng, Marie nhìn nhận Kiến trúc như một hiện tượng không gian độc-lập/tự-trị (autonomous spatial phenomenon) gắn liền với góc nhìn của sự cư trú và trải nghiệm của người sử dụng. Yếu tố nghệ thuật ( trải nghiệm) và khéo léo trong thi công được thể hiện rõ trong khâu xử lý chi tiết thi công và thiết kề đồ nội thất cho các dự án của Marie. Thường xuyên đưa ra những dẫn chứng lấy từ các nghiên cứu và các tác phẩm nghệ thuật kinh điển, kiến trúc của Marie cùng với cách mà những tác phẩm của bà được chụp lại gần như tái hiện lại cách mà những họa sỹ của những thế kỷ trước lưu giữ những khoảng khắc của đời sống và lịch sử. 

18236393_10155345648084198_103058016_o

18290012_10155345650234198_151505066_o

18261206_10155345650224198_1191421604_o

Có lẽ ‘cuộc sống’ và ‘kiến trúc’ mà Marie nhìn nhận không chỉ giới hạn ở một thời điểm cụ thể, bắt đầu hay kết thúc, của một một dự án. Trong mỗi slide dẫn chứng của mình, Marie luôn luôn sắp xếp hai hình ảnh song song, một lưu trữ hình ảnh ( an image) của hiện trạng và ngay cạnh đó là hình ảnh của công trình, hòa nhập một cách dễ dàng vào bối cảnh của dự án.

MJVH_Opwijk_DG_44

i.1.6

i.1.7

i.1.4

Dezeen_Market-Hall-by-Robbrecht-en-Daem-and-Marie-Jose-Van-Hee_17

Dezeen_Market-Hall-by-Robbrecht-en-Daem-and-Marie-Jose-Van-Hee_13

Dezeen_Market-Hall-by-Robbrecht-en-Daem-and-Marie-Jose-Van-Hee_11

6089

Khái niệm duality  luôn tồn tại trong công trình của Marie; sự đối chất và tương phản giữa hai sự vật/ sự thể luôn tồn tại và bằng cách thể hiện dự án một cách khéo léo của mình ( cho dù đó là bản vẽ, hay phim ảnh, hay nhiếp ảnh) Marie cho người xem đảm đương vị thế (assume a position) của cả hai sự thể nói trên. 

Phim ngắn // 13 Habitats – Aires Mateus

Đây là phim ngắn về ngôi nhà của Manuel Aires Mateus, một trong những kiến trúc sư người Bồ Đào Nha nhận được nhiều sự chú ý của cộng đồng kiến trúc sư thế giới. Aires Mateus cũng vừa được mời thuyết trình tại Royal Academy of Art London. Phim ngắn là một phần của Series 13 Habitat phim về ngôi nhà của 13 KTS người Bồ Đào Nha. Series được curate bởi Maria Milano và Roberto Cremascoli tại Triển lãm After Object Nauy. 

Dịch // Kiến trúc trong kỷ-nguyên của những bản vẽ hậu-kỹ-thuật-số.

David-Hockney-Pool-Paintings-Art-No-Rest-For-The-Obsessed-01-636x308

David Hockney’s Pool

Note trước khi đọc:

Digital: Điện tử/ Kỹ thuật số

Bài dịch này có bản tiếng Anh gốc của Sam Jacob, nếu ai có vốn tiếng Anh tốt thì nên xem bản gốc vì Sam Jacob (SC đã được ngồi crit của Sam) rất giỏi và viết rất hay.

Link gốc: 

https://www.facebook.com/sam.jacob.5817/posts/10155221560580774?pnref=story


Kiến trúc trong kỷ nguyên của những bản vẽ hậu-kỹ-thuật-số. 

Triển khai một khái niệm thiết kế bằng bút chì và giấy đã từng được coi là một hành động kiến trúc thiết yếu, nhưng chính văn hóa của những bản render điện tử của hai thập kỷ vừa qua đã gần như giết chết điều này. Gần như.

Trong các phim kinh dị, mỗi khi bạn nghĩ một cái gì đó đã chết thì có lẽ ngay lập tức chính nó sẽ quay trở lại tìm cách trả thù. Giống như những kịch bản điện ảnh zombie, điều này cũng đúng với việc thể hiện kiến trúc. Sau hai thập kỷ gần như mất tích, những bản vẽ kiến trúc đã quay trở lại để đánh dấu sự thay đổi của cả một thế hệ trong văn hóa kiến trúc.

Kể từ giữa thập kỷ 90 trở đi, khi mà máy tính thực sự bắt đầu thay thế những bảng vẽ, hành động vẽ trong kiến trúc ngày càng trở nên lỗ thời. Sức mạnh lớn dần của máy tính được sử dụng để tạo nên những viễn cảnh hào nhoáng cho những dự án sắp-được-xây-dựng, thông thường bao gồm bầu trời trong xanh, lá cây tươi tốt, những nhóm người đẹp đẽ và tươi cười, nơi mà những công trình hiện ra trong ánh nắng xuyên thấu và huy hoàng – Những viễn cảnh không khác gì một tấm bưu thiếp được gửi đến từ một tương lai không xa.

Cũng chính vào lúc này, các công cụ điện tử cũng thúc đẩy một thể loại bản vẽ kiến trúc khác theo một hướng đi hoàn toàn khác. Với Thông-tin-kỹ-thuật kết hợp với Chi-tiết-xây-dựng trở thành ‘thông tin xây dựng’ (building information) những bản vẽ này trở nên ám ảnh với một thể loại ‘hiện thực’ khác, không thuộc về thị giác mà gắn liền với một hệ thống và tiêu chuẩn của ngành công nghiệp xây dựng.

Văn hóa điện tử, ít nhất cho đến lúc này, đã phân loại bản vẽ thành hoặc là kỹ-thuật hoặc là minh-họa, thành hoặc là thông-tin-xây-dựng hoặc là money-shot. Nhưng trong cả hai cách phân loại nói trên, vai trò của bản vẽ kiến trúc như một công cụ thiết-kế và giải-thích đã dần biến mất.

Điều trớ trêu của việc sở hữu sức mạnh điện tử khổng lồ trong một máy tính cơ bản nhất là hành-động-vẽ đã bị triệt tiêu bởi chính những công cụ mà chúng ta sử dụng. Những phần mềm vẽ và công cụ render phức tạp đã thu hẹp phạm vi của những bản vẽ kiến trúc ngay cả khi chúng cải thiện độ chính xác của bản vẽ một cách rõ rệt. Hãy nghĩ về cách mà những công cụ vẽ điện tử đóng khung không chỉ bản vẽ mà cả cách chúng ta vẽ. Chúng đặt chúng ta vào trong một tiền-ý-niệm (tiền-niệm) của không gian, một loạt các chương trình được định sẵn thay vì một khả năng thiết kế nhập nhàng có thể được hình thành. Trong không gian của công cụ điện tử nói trên, hành động vẽ bị gắn vào mặt phẳng Cartesian được đinh sẵn.

Render sử dụng ngôn ngữ của nhiếp ảnh – công cụ render đã tiên tiến tới mức ngay trong phần mềm chúng ta có thể giả lập điện tử chiếc máy ảnh sử dụng trong phối cảnh – và điều này mang lại cho chúng ta hình ảnh ‘thật’ của thế giới. Tuy nhiên, chính những ý niệm hiện thực đã-rồi này là nơi mà bản vẽ kiến trúc dường như thách thức.

Đối lập render với truyền thống lâu đời của bản vẽ kiến trúc nơi mà bản thân nó phải tự định hình / phát mình trong khuôn khổ không gian của tờ giấy vẽ. Chúng ta thấy được điều này trong các tác phẩm ‘kiến trúc giấy’ của những năm 70 và 80; Libeskind giai đoạn tiền-thương-mại-hóa, OMA giai đoạn một và hơn tất cả là Zaha Hadid giai đoạn tiền-kỹ-thuật-số ( và nhiều nhiều hơn nữa)

dance-sounds-2280x1789

Libeskind’s Micromegas

Wall_The-Pleasure-of-Architecture

OMA entry for Parc de la Villete// Drawing by Alex Wall

zaha-hadid-drawing-alvin-boyarsky-collection_dezeen_936-4

Zaha Hadid

pc drawings012.jpg

Peter Cook’s Pluggin City

tumblr_mmt977woRj1r76mp0o1_1280

Superstudio

Trong giai đoạn này, bản vẽ kiến trúc gần như không thể tách biệt ra khỏi quy luật hình thành ý niệm của Kiến trúc. Những bản vẽ này không phải là ‘của Kiến trúc’ mà bản thân chúng chính ‘là Kiến Trúc’. Chúng tự nhìn nhận ra tính trọng yếu của không gian đồ họa và tự-nhận-thức (tự thức) được bản thân chúng. Những bàn vẽ Kiến trúc này tiếp nối huyết thống không chỉ dừng lại ở một nhóm kiến trúc sư của thế hệ trước (như Archigram, Superstudio, Archizoom …) mà cả những Ledoux, Gandy, Piranesi  cho tới tận trung tâm/ điểm bắt đầu của Kiến Trúc.

92375a455c47e4c05203c10a1bb17a5f.png

Etienne-Louis Boullée

Một trong những bài luận về lịch sử kiến trúc gần đây đã đề cập đến việc khi những ‘Kiến Trúc Sư giấy’ nói trên bắt đầu xây công trình, bản vẽ kiến trúc dần dần trở nên không quan trọng. Với sự trỗi dậy của công nghệ, bản vẽ kiến trúc trên cương vị của một hành động kiến trúc dần dần khô héo. Và cùng với việc đó cũng chính là sự biến mất của mối quan hệ của chúng ta với bản vẽ kiến trúc. Thay vào đó, bản vẽ kiến trúc đơn thuần trở thành một phương tiện thực dụng để trao đổi kiến trúc.

Thế nhưng, trong khoảng khắc mà bản vẽ kiến trúc tưởng như sẽ được chôn xác trong thùng rác của lịch sử, một thế hệ kiến trúc sư khác đã tìm được trong chính sự lỗi thời đó cơ hội cho một lối đi khác. Chắc chắn tại FAT, văn phòng mà tôi đồng chủ trì từ 1995 tới 2014, được biết tới bởi nhiều lập trường trái ngược nhau, chúng tôi tự cảm thấy được hấp dẫn với một tổ hợp khác biệt của những công cụ điện tử mà từ chúng dẫn tới việc gây dựng không gian ba chiều. Với chúng tôi, chính Illustrator và photoshop (hoặc cụ thể hơn là phần mềm đồ họa tiền nhiệm của illustrator, Macromedia Freehand) đã mang lại một định hướng khác, không chỉ trong việc vẽ mà còn cả việc tưởng tượng Kiến trúc. Với chúng tôi, chính khả năng tạo ra những siêu collage của Photoshop và sự ‘siêu phẳng’ của Illustrator đã hình thành nên một đàm-luận hình ảnh khác: kiểu đàm luận mà xem xét tất cả các hình ảnh trong không gian điện tử của nó và cùng một lúc đó hình thành một mệnh đề kiến trúc khác.

7503c40e06d516c3c9d092912401eeee

Sam Jacob Studio

Photoshop, trong cách mà nó có thể mở và thao túng nội dung, gợi ra một mối quan hệ đặc biệt của những hình ảnh mà bản chất đã được biến đổi bởi văn hóa điện tử, xuất phát chủ yếu là từ Google images. Photoshop cho phép chúng ta can thiệp vào thế giới hình ảnh xung quanh, cắn xén thông tin và định hình đó để phục vụ cho một mục đích khác. Điều này đã từng được biết tới như collage, cắt nhiều hình ảnh và sắp xếp hình ảnh này với hình ảnh khác. Trong Photoshop, thậm chí, chúng ta có thể khám phá một hình ảnh ở mức độ pháp y/ vi mô, cắt, mask, làm trơn tư điểm kết nối giữa các hình ảnh. Và chính khả năng làm trơn tru đó đồng nghĩa với tổ hợp vô tận và đa sắc thái của các hình ảnh remix và mash up. Thay vì một hình ảnh hình thành nên từ những thành phần riêng lẻ, những thành phần đó trở thành một đồng nhất hình họa không thể chia cắt.

Không gian Illustrator, trong khi đó, gợi ra sự phẳng, việc chồng-lớp (layering) những mặt phẳng ấy và nhấn mạnh những đường bo đồ họa. Trong không gian điện tử này, từng mặt phẳng đồ họa được đặt chồng lên nhau tựa như những tấm phông đặt trên một sân khấu. Trong thực thế, chúng ta làm di chuyển uyển chuyển giữa những môi trường điện tử khác nhau bằng cách cắt, dán và sắp đặt để từ đó bản vẽ kiến trúc trở thành một collage không chỉ của nội dung mà còn của kỹ thuật xử lý.

Nhưng những bản vẽ điện tử phức tạp được phát sinh từ nhiều nguồn thành phần và bằng sự kết hợp của nhiều kỹ năng và phần mềm. Dựng mô hình, render, vẽ line và nhiều mảnh media được đem trộn vào nhau để trở thành một thực thể thống nhất; kéo màn hình lên xuống, zoom ra rồi vào, chúng ta đang sác tạo ra cả bản vẽ kiến trúc và không gain của bản vẽ kiến trúc trong một thế giới khác trong ánh glow phía bên kia của màn hình máy tính.

Sự quay trở lại của bản vẽ kiến trúc trong kỷ nguyên kỹ thuật số là sự phục hồi của truyền thống vẽ nhưng kỹ năng, công cụ và trung gian của nó về căn bản là hoàn toàn mới. Màn hình không chỉ khác một tờ giấy không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn khác về mặt khái niệm. Chồng một lớp giấy can lên trên một tấm bảng vẽ đồng nghĩa với việc sắp đặt một cái gì đó tách biệt ra khỏi thế giới bên ngoài – Dán băng dính ở 4 góc, cuộn giấy căng phẳng, bề mặt của nó sẵn sàng được việc khắc lại bởi mực từ cây bút Rapidograph hoặc cào bỏ bởi dao cạo mỗi khi có lỗi. Ngược lại, màn hình máy tính cận kề và gắn liền với thế giới. Đó là nơi mà cả thế giới – hoặc gần như cả thể giới – đến với chúng ta.

Ngay cả khi chúng ta triển khai bản vẽ kiến trúc điện tử, chúng ta tự đặt mình vào vị trí của khán giả. Lúc chúng ta vẽ cũng là lúc chúng ta chứng kiến bản vẽ hình thành. Chúng ta trở thành người thụ hưởng bản vẽ cũng như người tạo ra chúng.Không gian của bản vẽ cũng gần như không bao giờ chống trải mà nó gắn liền với dòng chảy liên kết, một mặt phẳng có thể chảy hoặc bùng nổ, có thể trở thành tái tổ hợp và lộn xộn, nơi mà ý nghĩa cũng như tương tác của hình ảnh luôn luôn chuyển biến.

Có lẽ, sự gần gũi của bản vẽ điện tử với muôn vàn những tham khảo, download và dòng chảy kỹ thuật số cũng là lý do vì sao, trong sự tái sinh của bản vẽ kiến trúc gần đây, chúng ta không chỉ thấy được thành phần hình ảnh mà còn thấy được kết cấu của những bản vẽ kiến trúc đó. Ví dụ như những bản vẽ của Point Supreme hay Fala Atelier gợi nên sự tương đồng với hội họa. Hay như những tấm collage của Office KGDVS ,liên tục hoán đổi sự phẳng và chiều sâu, gợi cho chúng ta đến kết cấu của Ruscha hay Hockney. Hay như những phác họa của Dogma gợi cho chúng ta đến sự chính xác của những nhà duy lý.

700f32bce7c6996a293067434ca1ef0e

Point Supreme

fala-atelier_2

Fala Atelier

kgdvs-cover-image

Office KGDVS

Thay vì vươn tới hiện-thực-nhiếp-ảnh-giả-tạo, Sự sùng bái mới của những bản vẽ kiến trúc khám phá và lợi dụng sự nhân tạo của chính nó, làm cho chính những người thị giả chúng ta nhận thức được chúng ta đang nhìn vào một không gian tương trưng viễn tưởng. Đây chính là sự đối lập với những bản render điện tử mà mục đích duy nhất của chúng là làm cho một thứ tưởng tưởng dường như là ‘thật’

Tiềm năng của cách biểu hiện tượng trưng hậu-kỹ-thuật-số là một trong những nghiên cứu chính trong những studio mà tôi đã dạy tại Architectural Association ở London, trường Kiến trúc Yale và Đại học Illinois ở Chicago. Sinh viên của tôi và tôi đang làm việc với với những tham khảo trực tiếp từ những bản vẽ kiến trúc kinh điển chọn lọc từ kho tàng lịch sử rộng lớn. CHúng tôi sử dụng những tham khảo từ Piranesi, Boulee, Mies, Stirling, Hejduk, Hadid và nhiều kts khác, một người thể hiện một quan điểm khác biệt trong không gian vẽ cũng như gợi ra một thể loại kỹ năng và tượng trưng. Mục tiêu của chúng tôi là xem xét, phá vỡ và sắp xếp lại những công cụ điện tử.  Trong khi triển khai điều này, chúng tôi khám phá ra những cách mới trong việc lai drawing projection và không gian giấy. Cùng lúc đó, kỹ năng điện tử cho phép chúng ta tạo ra những sản phẩm mà khó có thể được đánh giá là điện tử hay vẽ tay, render hay khắc họa. Chính những cơ hội hậu-kỳ của kỹ thuật số dẫn đầu cho một cuộc nghiên cứu nghiêm túc cho bản vẽ kiến trúc.     

Mục đích của chúng tôi là phát triển cách tiếp cận hậu-kỹ-thuật-số, từ đó định vị lại ý nghĩa cũng như chức vị của bản vẽ trong kiến trúc – định hình lại việc bản vẽ kiến trúc không chỉ là của sổ nhìn ra thế giới mà còn là công cụ để gây dựng nên thế giới đó, và đòi lại chỗ đứng của bản vẽ kiến trúc như địa điểm nới mà ý tường kiến trúc được xây dựng. Sự tái-sinh-điện-tử của bản vẽ kiến trúc đã tạo nên một tập hợp ‘Frankenstein’, bản vẽ nơi mà sự giả lập và lai tạp của nó đi vượt ra khỏi giới hạn trung gian và kỹ năng để đặt câu hỏi với chính quyền tác giả và không gian. Nói một cách khác, trong trạng thái không-chết, hậu-vật-chất và điện tử, bản vẽ kiến trúc đã trở nên giàu có hơn, mạnh mẽ hơn và khiêu khích hơn bao giờ hết.   

Nhà Nhật Bản: Kiến Trúc và Cuộc Sống sau năm 1945

C8BGOTyXgAEWUwe

Khi nhắc đến Nhà ở và khái niệm Domesticity thì có lẽ không thể không nhắc tới Kiến trúc của Nhật Bản. Sau Chiến Tranh thế giới thứ II, hệ quả tàn phá khốc liệt ở Tokyo và một số thành phố khác ở Nhật Bản đã mang đến một nhu cầu cấp thiết về nhà ở và chính từ thời điểm này,  nhà ở 1 gia đình trờ thành tâm điểm của thử nghiệm và tranh luận kiến trúc. Kiến trúc sư Nhật Bản hơn bao giờ hết sử dụng chính thiết kế của mình để đưa ra những công kích cấp tiến đánh giá xã hội cùng với việc đưa ra những phương án giải quyết các vấn đề xã hội và từ đó thay đổi lối sống và hình thành nên một nền kiến trúc đương đại mà cộng đồng thế giới đang biết tới tại thời điểm này.

Để đánh giá thêm một cách cụ thể về Kiến Trúc Nhật Bản trong giai đoạn này thì có lẽ bài luận học giả Brendon Carlin “The Architecture of Homelessness: A Critique of the New York Museum of Modern Art’s Exhibition, A Japanese Constellation” sẽ giúp ta hiểu hơn về về phạm trù này.

http://thecityasaproject.org/2017/01/the-architecture-of-homelessness/

Dưới đây là một số hình ảnh của buổi triển lãm.

IMG_20170326_161139_016Toyo Ito

IMG_20170326_162945_163Hiromi Fujii

IMG_20170326_163943_752Junya Ishigami

IMG_20170326_170221_781Kiko Mozuna

IMG_20170326_181117_257Yasujiro Ozu

IMG_20170330_223813_555Takamitsu Azuma

IMG_20170330_223949_726Kazumasa Yamashita

IMG_20170330_223928_193Osamu Ishiyama

IMG_20170330_231313_983[1]Seiichi Shirai

IMG_20170330_224004_920Kazunari Sakamoto

IMG_20170330_223850_196Osamu Ishiyama

IMG_20170330_223837_603Wajiro Kon

IMG_20170330_223913_225Kazuo Shinohara

IMG_20170326_181152_110

IMG_20170326_181403_523Onishimaki + Hyakudayuki

IMG_20170326_181428_014

IMG_20170326_181453_421Bow-wow

IMG_20170330_223746_167

 

Điều mà bạn nên nghĩ về Kiến Trúc.

blank-white-pageconnecting-points--february-2012-5g1bdp7u

What should you think about Architecture – Jack Self

Dịch: Điều mà bạn nên nghĩ về Kiến Trúc

Chúng ta nên đánh giá Kiến trúc thế nào là tốt hoặc không tốt? Bằng những tiêu chí nào mà chúng ta nghĩ về những thứ mà chúng ta đang nhìn vào? Và chúng ta hiểu kết quả từ việc đánh giá đó như thế nào?

Đa số người trên thế giới không nhìn nhận kiến trúc một cách sâu sắc, nếu không muốn nói là không nhìn nhận một chút nào. Họ nhìn chằm chằm vào đồ vật và môi trường xung quanh – từ cái tủ lạnh đến cái hộp sữa, từ bậc cửa nhà trơn trượt, màn hình máy tính, đôi giầy của đồng nghiệp, những nút bấm trong cầu thang máy hay những khuôn mặt của bạn bè họ lúc bữa tối. Tất cả những thứ nằm trong tầm tay với chúng ta đều đòi hỏi sự chú ý của chúng ta; tất cả mọi thứ khác vượt ra khỏi cự ly này chỉ là một tiềm thức lờ mờ không định hình. Chính bởi lẽ vậy, sự nhận thức thông thường về kiến trúc và đương nhiên về không gian nhìn chung là tương đối thấp. Chỉ khi cuộc sống thường ngày của chúng ta đột nhiên bị gián đoạn, thông thường bởi một khoảnh khắc của một vẻ đẹp bất ngờ nào đó, mà chúng ta nhìn nhận không gian một cách rõ ràng. Như khoảng khắc một tia nắng chiếu ngang sảnh trung tâm của một ga tàu cùng lúc chúng ta nhìn lên v.v… Nhưng ngay cả trong nhưng bối cảnh như vậy không chắc chúng ta đã chủ động tương tác với  không gian khi mà chúng ta chỉ vội vàng đi tiếp mà không phân tích những phản ứng  hành vi của chính mình. Không gì tóm tắt sự tương tác thụ động với kiến trúc này hơn hình ảnh của một khách du lịch lười biếng quẩn quanh các đài tưởng niệm với bộ headset thuyết trình. Tất cả mọi âm thanh xung quanh họ tắt lịm. Trong mỗi bước đi của mình, họ nhìn vào thứ họ được bảo nhìn, cảm thụ cái họ được bảo cảm thụ trong suốt hành trình lang thang đã được định sẵn.

Những đánh giá về kiến trúc của chúng ta gần như luôn luôn thụ động. Chúng ta thường nói:” Ôi đẹp quá, tinh tế quá, xúc động quá … “( hoặc đúng hơn là “trông hay nhỉ”) . Chúng ta không nghĩ: Liệu công trình này có thể tốt hơn không? Liệu không gian này có giải phóng con người của ta không? Liệu công trình này có phản ánh những giá trị văn minh của ta không? Ai thiết kế chỗ này, vì sao và cho ai? Chúng ta chỉ nghĩ đến những câu hỏi này khi chúng ta đối mặt với những công trình của quá khứ, khi chúng ta vào vai thám tử lần mò tìm kiếm  manh mối. “Cái cửa nhỏ này chắc đã được lắp thêm để người ta ra vào thành mà không phải mở cổng chính” chúng ta phán, thỏa mãn với khả năng quan sát của chính mình. Điều này (*cái cửa nhỏ) trở nên thật buồn cười/trớ trêu đối với chúng ta nhưng câu hỏi ở đây là tại sao? Có lẽ là vì khoảng thời gian khổng lồ đã trôi qua tính từ lúc khởi điểm của cái cửa đó nói lên tính vô vọng trong sự khổ đau của con người. Chính cái cửa đó là nhân chứng vật chất cho sự biến mất cho những dấu tích của cuộc sống, và chính bản chất của sự sống sót ngẫu nhiên của chúng tiết lộ ra một sự thật là tất cả các cấu trúc xã hội đều chỉ mang tính trừu tượng ( và, ở mức phổ quát, đều dựa trên bạo lực). Những không gian, của quá khứ đã chết, đã từng sống và được bảo vệ. Nhiều con người đã được đầu tư vào việc bảo tồn những không gian đó; chúng được bảo vệ ngay cả khi bản thân chúng đã ‘chết’, ngay cả khi những xã hội xung quanh chúng đã thay đổi đến mức không thể nhận ra, làm cho chúng trở nên vô dụng. Những địa điểm này cung cấp cho chúng ta một góc nhìn cần thiết để hiểu được rằng: khái niệm không gian – thời gian của cá nhân chúng ta là không quan trọngvô thức. Chúng ta thấy cái cửa đó thật trớ trêu bởi vì chúng ta không biết phản ứng thế nào khác khi ta đối mặt với một thứ vừa gần gũi vừa xa lạ. Đó chính là sức manh của môi trường xây dựng (built environment) Nếu có “Hài” trong Kiến Trúc thì nó cũng chỉ là Bi Hài mà thôi.

Nhưng trong thực tế, chúng ta nên ứng dụng chính những phương pháp suy đoán này vào những thứ bình thường và những không gian quen thuộc, nơi chúng ta trú ngụ thường ngày; chúng ta nên luôn luôn tìm kiếm những manh mối của quyền lực (ảnh hưởng/thay đổi) xã hội trong chính ngôi nhà của chúng ta. Lần tới khi bạn chuẩn bị một bữa ăn hay đang ngồi trong nhà vệ sinh, hãy tưởng tượng những đồ vật và vật chất xung quanh bạn sẽ tồn tại đủ lâu như khu di tích Pompeian. Cùng với những lợi ích của phương pháp pháp y khảo cổ, hãy tự hỏi: Căn phòng của bạn phản ánh xã hội đương thời như thế nào? Bằng cách nào mà chính căn phòng đó gò bó mỗi con người vào trong một hoạt động khuôn mẫu? Liệu chính căn phòng này có hạn chế tự do của bạn không ? Ai đã thiết kế căn phòng này như vậy và tại sao? Kiến trúc được mặc định là một vật thể tạo hình hoàn thiện và không thay đổi. Nhưng nó luôn luôn là một vật thể được thiết kế một cách sâu sắc (critical design object) (mà trong nó luôn có một mục đích tiềm ẩn nào đó).  Không gian – cũng như âm nhạc – bỏ qua lý lẽ và làm ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi và định kiến của con người, một cách vô phép và vô thức.

Chính bởi vì Kiến Trúc không phải một thứ cơ bản cho cuộc sống hằng ngày, kiến thức phổ thông về Kiến Trúc thường là hời hợt và cách phân loại nhìn nhận nó trở nên vô cùng rộng và chung chung. “Tôi thích kiến trúc truyền thống, không quá hiện đại” người ta vẫn thường nói như thể chỉ có hai loại kiến trúc. Một loại rất tốt – và loại này thường bao hàm tất cả mọi thứ từ công trình giả Tudor (2000 năm sai CN) cho đến Babylon cổ ( 2000 năm sau CN), hoặc từ nhà Victoria cho đến tòa thờ thánh Gothic … Loại còn lại thì rất tệ và thường bao gồm nhà ở xã hội Xô Viết cho đến nhà ở biển ở California hay công trình của Bauhaus hay Koolhaas. Điều lạ lẫm với Kiến Trúc Sư không phải là bản chất tự tiện trong cách phân loại Kiến trúc này, mà là những lý do dẫn đến việc hình thành cách phân loại trên không mang tính Kiến trúc một chút nào cả. Khái niệm Truyền thống thực chất chỉ là biểu hiện của nỗi sợ hãi cho sự thay đổi, và theo đó dẫn đến nỗi sợ hãi với cái chết và sự mất mát về quyền lực ( của một cá nhân hay một xã hội). Khái niệm Hiện đại ở đây thực chất là sự tin tưởng vào khả năng của tiến/phát triển, và theo đó là khao khát sự sinh lời. Cả hai khái niệm này đều không phải là khái niệm kiến trúc.

Nếu chúng ta đã quên tất cả mọi thứ chúng ta biết – hoặc nghĩ là chúng ta biết – về Kiến Trúc, thì chúng ta nên làm gì tiếp theo ?

Tất nhiên một công trình không bao giờ tồn tại trong chân không. Việc diện dịch Kiến Trúc phụ thuộc vào việc định hướng ngôn ngữ xã hội của một phức hợp bao gồm nhiều tham khảo, ám chỉ, khuôn khổ và lý thuyết. Một số khái niệm vô cùng cụ thể và chúng đòi hỏi những người thiết kế phải tự giải thích nó, và những khái niệm này thường mang đặc tính kiến trúc. Tuy nhiên, nhiều khái niệm khác mang tính phổ cập hơn, bắt nguồn từ nhiều ngành khác ( ví dụ như khái niệm Marxism, Environmentalism, HumanismDemocracy) và những khái niệm này thường được tượng trưng và chuyển thể sang Kiến Trúc.

Vậy bạn nên nghĩ gì về Kiến Trúc ?

Bạn nên đánh giá một công trình qua bốn khái niệm chính.  Đó là: Mặt thẩm mỹ ( Aesthetic), Chương Trình ( Programme ), Công Năng ( Function ) và Phom ( Form ). Bạn không cần một kiến thức nào trước khi thử nghĩ về 4 khái niệm này; thậm chí sẽ tốt hơn nên bạn loại bỏ tất cả những định kiến đã có sẵn. Tưởng tượng đây là lần đầu tiên bạn nghĩ những khái niệm đó. Nói một cách rộng ra, chúng gắn kết với 4 câu hỏi sau “Tại sao bạn xây công trình đấy?” “Người ta phải sử dụng công trình đấy như thế nào?” “Những yếu tố nào làm ảnh hưởng đến quá trình thiết kế?” và “Hình dạng đấy được lấy từ đâu ra?”

Thẩm Mỹ ( Aesthetic)

Nói một cách đơn giản, đánh giá thẩm mỹ là nghiên cứu về cái đẹp. Nhưng nói một cách chính xác hơn, đó là nghiên cứu vì sao chúng ta cảm thấy một cái gì đó đẹp và là nghiên cứu triết học về việc liệu cái đẹp có tồn tại một cách khách quan hay không? Điều này làm cho việc đánh giá thẩm mỹ tương tự như việc đánh giá đạo đức (ethic), nghiên cứu đánh giá giữa cái đúng và sai hay như nghiên cứu triết học của cái thiện và cái ác. Cả hai lĩnh vực được nghiên cứu để giúp ta hiểu được hai điều: Con ngưới đánh giá một thứ là đẹp/ tốt như thế nào và liệu những thứ được cho là xấu/ ác có thể tồn tại ngoài nhận thức của con người được không? Như Kant ( triết học gia người Đức) đã chỉ ra, đạo đức và thẩm mỹ là một. Cả hai đều liên quan đến việc quyết định giá trị và phẩm chất đạo đức cá nhân. Không giống như logic hoặc một số triết lý khác ( ví dụ như ngôn ngữ) đánh giá thẩm mỹ không mang một quy tắc (hay luật định) cụ thể nào cả. Chúng ta không thể tìm thấy một công thức phổ cập cho cái đẹp; đánh giá về thẩm mỹ không phụ thuộc vào việc giải quyết các thông số qua một hàm số nào đó. Việc đánh giá thẩm mỹ, cũng như đạo đức, phụ thuộc vào việc cân bằng các thông tin chủ quan và khách quan và từ đó đưa ra nhận định cá nhân. Việc những đánh giá trên diễn ra một cách trôi trảy và ngẫu nhiên phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức và nguồn thông tin của người phải đưa ra quyết định đánh giá.

Đánh giá thẩm mỹ là đánh giá đạo đức của một phong cách (style); ở đây có thể hiểu phong cách là ‘ cách làm một điều gì đấy’.  Phong cách là cách thức hay phương pháp luận thúc đẩy chính bởi đạo đức cá nhân. Nó là một quá trình, nhưng nó không nói cho chúng ta một chút gì về mục đích của (người mang) phong cách đó. Lấy ví dụ, ‘phong cách nói chuyện đời thường’ (casual style of speech) thể hiện cho chúng ta thấy sự thân thiện và gần gũi; nó không gợi cho chúng ta biết vì sao người nói lại tìm cách tiếp cận chúng ta theo cách này. Trên thực tế, phong cách chỉ chú trọng ‘ như thế nào’ ( how) chứ không phải là ‘tại sao’ (why). Bảo Tàng Anh Quốc tại London được xây dựng với phong cách cổ điển, đây là câu trả lời của kiến trúc sư đối với những đánh giá/ quyết định thẩm mỹ của chủ đầu tư – Đó chính là tham vọng, chiến lược và ưu tiên đạo đức của họ đối với chính công trình của mình. Trong Kiến Trúc, Thẩm mỹ phản ánh việc một mối quan tâm hay khát vọng cụ thể nào đó được hiện thực hóa trong không gian. Lâu đài là một sản phẩm của thẩm mỹ quân đội phong kiến. Chúng xuất hiện với nhiều phong cách khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn lịch sử, tài nguyên và công nghệ có sẵn, địa lý, địa hình v.v… Tương tự như vậy, nhà hiện đại (modernist house) xuất hiện như một sản phẩm của thẩm mỹ hậu chiến tranh thế giới thứ nhất. Phong cách của Villa Savoye đơn giản chỉ là một phản ứng đối với thẩm mỹ này, và một loạt các sản phẩm đa dạng của các phong cách kiến trúc khác cũng chứng thực cho điều này. Khi xem xét đánh giá thẩm mỹ một công trình, ta phải hỏi ai là người xây công trình đó, tại sao họ chọn một số hoạt động cụ thể trong công trình này và cả công trình này được xây dựng với mong muốn đạt được điều gì. Nếu ta muốn hiểu được phong cách của một công trình, trước hết ta phải hiểu được mục đích của người thiết kế và thời điểm lịch sử của họ.

Điều cuối cùng khi nói về chủ đề này liên quan đến khái niệm Hệ Tư Tưởng. Thẩm mỹ là một biểu hiện cụ thể cho một hệ tư tưởng cụ thể. Trong thực tế, Thẩm Mỹ hiện thực hóa một Hệ Tư Tưởng. Hệ Tư Tưởng không tồn tại như một vật thể trừu tượng. Nó không phải là một danh từ theo cách nghĩ trên, thay vào đó nó là một động từ. Hệ Tư Tưởng xảy ra/ xuất hiện. Nói một cách chính xác hơn, Hệ Tư Tưởng ‘diễn ra’ ( take place) ( cách diễn đạt thể hiện rõ tính chất tạm thời và không gian của nó) Ta không thể nào định vị chính xác chủ nghĩa tư bản (capitalism) hay chủ nghĩa tân tự do (?) ( neoliberalism) hay kể cả Dân Chủ (democracy). Như một đường tròn hoàn hảo, chúng không tồn tại. Hoặc nói một cách khác, chúng tồn tại trong một số ví dụ cụ thể: Quốc hội, biểu tình, vùng thương mại tự do ở Guatemala, công viên ở Việt Nam… Khi chúng ta thay đổi vật chất của những địa điểm trên, chúng ta thay đổi hệ tư tưởng đang hoạt động ở đó. Đập bỏ đi bức tường phân định House of Lord và House of Common ở Westminster không chỉ là một hành động vật chất, nó cơ bản làm thay đổi bản chất của Dân Chủ tại nước Anh.

Hệ Tư Tưởng làm ảnh hưởng đến tiền-quan-niệm (tiền niệm ?) của chúng ta về thế giới và do đó ảnh hưởng đến tham vọng và nhận thức của chúng ta về sự đúng và sai. Chính thái độ chính trị và đạo đức này làm ảnh hưởng đến đánh giá thẩm mỹ của chúng ta và từ đó phản ảnh chúng ta bằng chính phong cách mà chúng ta thể hiện.

Chương Trình ( Programme) 

Khuôn khổ thứ hai trong việc nhìn nhận Kiến Trúc là Chương Trình – Tất cả những hoạt động tưởng tượng được diễn ra trong một công trình. Tại đây, cụm từ Chương Trình không phải là một từ chuyên môn của Kiến Trúc, và nó có ý nghĩa bắt nguồn từ hai ngành: sinh học (biology) và lập trình/ tính toán/ công nghệ thông tin(?) (Computing). Hiểu trong ngành đầu tiên, Chương Trình có thể được hiểu là nguyên nhân mà một con người hay con vật hành xử theo cách được định trước; hiểu trong ngành thứ hai, nó là dữ liệu đầu vào  của một quá trình tự động triển khai của một phần việc (automatic performance of a task). Mặc dù điều này có thể khập khiễng, ý niệm “Mọi con mối đều được lập trình để xây tổ  như nhau.” có thể được so sánh là giống với cách loài người tổ chức không gian và chuyển động của họ. Với tất cả những tiến bộ và khả năng của mình thì suy cho cùng loài người cũng không hẳn là loài có đặc quyền hơn các loài khác. Cũng giống như việc ta có thể lập trình một máy vi tính thông qua các chương trình (programme) của nó, chúng ta có thể tiền-xác-định/ tiền định ( predetermine) những hành vi khả thi của một cá nhân hay một nhóm cá thể thông qua những chỉ định và giới hạn không gian. Đây không phải một quả quyết về mặt đạo đức: Ta không bàn đến việc đúng hay sai trong việc ép buộc một ai đó vận hành theo một cách được định sẵn, đây chỉ là một phần giả định gắp liến với việc tìm hiểu kiến trúc. Cũng giống như bất cứ khái niệm về quyền lực khác, Kiến trúc có thể được sử dụng theo cách tích cực cũng như tiêu cực . Có một điều chắc chắn: nhận thức sâu sắc ( critical awareness) về việc thiết kế không gian tiền định phản ứng của chúng ta – nói một cách khác, hiểu được rằng chúng ta được lập trình bởi chính kiến trúc xung quanh – là quan trọng trong việc đeo đuổi bất cứ một mô hình tổ chức xã hội bình đẳng nào. Marx, Lefebvre, Foucault, Baudrillard – tất cả những nghiên cứu của những nhà triết học nói trên đều có cùng mục đích là chỉ cho chúng ta thấy ‘sợi xích’ đang buộc chúng ta vào với xã hội mà chúng ta đang tồn tại trong đó. Những triết học gia nói trên cung cấp cho chúng ta những công kích xã hội quan trọng và không thể thiếu; tuy nhiên những dự luận về sự thay đổi phải đến trực tiếp từ người Kiến Trúc Sư.

Chương Trình cũng là điểm mà Kiến Trúc và Công Trình trở nên tách biệt. Sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, chúng ta chứng kiến sự trỗi dậy, đặc biệt trong các trường kiến trúc, của cái gọi là “kiến trúc Kể chuyện/ Hư cấu” (?) (Narrative Architecture). Những Kiến Trúc này bao gồm thiết kế của một điều kiện tưởng tượng, bối cảnh tưởng tượng và những nghi thức tưởng tượng – việc thiết kế trong kiến trúc này có thể có hoặc không đem lại kết quả là một Công Trình. Mặc dù vậy, chúng vẫn có phom/hình hài kiến trúc bởi chúng bao hàm sự cố gắng trong việc lên chương trình/ lập trình cho một không gian. Mặt bằng ( plan), dưới danh nghĩa là một bản vẽ, miêu tả hoạt động trong không gian trên một mặt phẳng. Chương trình cũng làm việc đó, chỉ có điều là nó xảy ra theo dòng chảy của thời gian. Vì các bản vẽ mang tính chất tĩnh, chúng không thể diễn tả chương trình của một công trình vượt ra khỏi một khoảng khắc nhất định. Một ví dụ đơn giản của Kiến Trúc mà không bao gồm công trình có thể được diễn tả ngắn gọn trong câu chuyện sau đây: Một gia đình đến gặp KTS và thuê KTS thiết kế một phần cơi nới cho ngôi nhà họ. Họ có 2 người con tuổi teen, một trai một gái và ngôi nhà hiện tại của họ chỉ có hai phòng ngủ. Người KTS đưa ra phương án thiết kế như sau: ” Con gái của anh chị sẽ đi học đại học trong 2 năm tới và con trai của anh chị cũng sẽ ra khỏi nhà sau 4 năm nữa. Nhà anh chị không cần phần cơi nới nào cả, cái mà anh chị cần là một cái xe trailer ( xe di động móc sau ô tô cho các chuyến đi đường dài) tương đối tốt đỗ ở sân sau. Thế là họ mua một cái xe trailer, kết nối nó với điện, nước, cống rãnh; người con trai lắp máy XBox vào trong đó và nghe nhạc thâu đêm. Cả gia đình đều bớt căng thẳng. Đây là một dự án thật mà tôi đã trực tiếp tham gia mà chính cách suy nghĩ theo chương trình này làm công ty tôi mất đi hợp đồng khoảng $30000. Điều phải nói ở đây là phí thiết kế của các văn phòng kiến trúc đương đại phụ thuộc chủ yếu dựa vào giá thành xây dựng. Không có điều gì khuyến khích một KTS nghĩ về thiết kế kiến trúc ( mà không có Công Trình) theo cách này. Tất nhiên, ‘Kiến trúc Kể chuyện/Hư cấu’ (?) (Narrative Architecture) chỉ là một diễn dịch quá thể của cách thiết kế kiến trúc này. Điều quan trọng ở đây là lập trình/ lên chương trình kiến trúc ( để giải quyết một vấn đề) không nhất thiết sẽ sản xuất ra một công trình – thậm chí nó có thể không sản xuất ra một bản vẽ nào cả.

Chương trình là một giá trị không có tỷ lệ; ở cấp độ của một thành phố nó được gọi là zoning, và ở cấp độ của một căn phòng nó thường được hiểu sai thành Công Năng. Một phòng tắm, một phòng ngủ, một phòng khách v.v… – chúng đều là chương trình, không phải Công Năng. Chúng miêu tả những hoạt động mang tính định hướng trong không gian, cũng như chất lượng hay thành phần làm cho những hoạt động đó trở nên khả thi. Ở một số trường hợp, ví dụ như ở nhà máy sản xuất giầy hoặc những nhà chứa server máy tính, Chương Trình có thể được thiết kế cụ thể đến mức không gì có thể sống được trong đó. Bên cạnh đó, chương trình có thể được thiết kế chung chung với mục địch tối đa hóa những hoạt động có thể xảy ra, ví dụ như dại sảnh hoặc sân vận động.

Ngay cả khi được thiết kế một cách chung nhất, không gian lập trình/được-lên-chương-trình gần như để giới hạn một số hoạt động nhất định trong một phom cụ thể. Khi đặt ở mức độ công cộng thì nó thường tập trung tới hiệu quả sử dụng: tối đa hóa dịch vụ trao đổi và dịch vụ xã hội, tăng và thúc đẩy dòng chảy sản xuất và hàng hóa thương mại. Khi đặt ở mức độ cá nhân thì chương trình có thể trở nên tiêu cực hơn rất nhiều. Ngôi nhà có thể được lập trình để trở thành nhà máy sản xuất công nhân tốt hơn. Đây là lý do vì sao những tập đoàn lớn như Ford hoặc Cadbury rất quan tâm đến nhà ở và sức khỏe của công nhân. Những tập đoàn này phụ thuộc vào chình những ngôi nhà đó để có được nguồn lao động tốt hơn và từ đó thúc đẩy sản lượng của tập đoàn. Việc lập trình/ lên chương trình cho một ngôi nhà bản chất là hành động thống trị, kiếm soát và thuần hóa con người. Chúng ta, do đó, phải nhận thức được sự tồn tại của Chương Trình đơn giản vì sự hình thành và quá trình sản xuất xã hội được hình thành không ở nơi công cộng như ta thường nghĩ mà trong chính những ngôi nhà hàng ngày của chúng ta.

Công Năng (Function)

Như tôi đã nói ở trên, Bếp là một “không gian được lập trình/lên chương trình” (programmed space), không phải “không gian chức năng” (function space). Sự thật về “chức năng” (function) bắt nguồn từ tiếng latin gốc “fungi” (để thực hiện), có vẻ như nó thích hợp hơn để diễn tả một “hành động” hơn một “chương trình”- với nguyên mẫu là “pro graphein” ( để viết một cách công khai). Tuy nhiên, khái niệm của Công Năng như một hành động được thi hành đã được tiếp quản bởi tính ứng dụng mang tính Chủ nghĩa Hiện Đại (modernist usage), Chủ nghĩa Công năng ( Functionalism) là nghiên cứu chuyên sâu về ergonomic actions ( tạm dịch là cự ly hành vi, Ergonometry là nghiên cứu kích thước của những hoạt động của con người) và nó liên quan đến việc đo đạc hiệu suất và sai số. Công năng đã trở thành số liệu đơn thuần, giống như việc sử dụng của nó trong toán học. Như cách mà KTS Ý nổi tiếng Aldo Rossi hùng hồn tuyên bố, chúng ta không còn sử dụng công năng ngoại trừ “Công năng của”. Trong Toán học, Đại số luôn gắn liền với hai hoặc nhiều biến – X là function (Công Năng) của Y. Theo đó, nếu diễn tả Bếp là không gian Công năng có đồng nghĩa với việc khẳng định Công năng của Bếp là Nấu ăn. Điều này rõ ràng là không có ý nghĩa. Nấu ăn là môt hàm số của tất cả các tham số có thể gắn liền với việc chuẩn bị một bữa ăn – dự trữ lương thực, chuẩn bị, đặt nó lên lửa, nhiệt hay thông qua môt quá trình biến đổi nhất định. Bếp đơn thuần chỉ là một không gian chứa Nấu Ăn. Chúng ta cũng có thể Nấu Ăn ngoài trời hoặc trong bất cứ không gian với các công cụ và thiết bị cần thiết. Bởi Công Năng trong Kiến Trúc đã bị bóp méo quá xa khỏi việc diễn tả một hành động, sẽ tốt hơn nếu chúng ta nói Nấu ăn là Chương trình của Bếp thay vì Công Năng. 

Sự chiếm đoạt của Công Năng vào trong ứng dụng Tư Bản bắt nguồn từ một số thí nghiệm Cự Ly Hành vi đầu tiên ( Ergonometric Experiments) mà trong đó, những chiếc đèn nhỏ được gắn vào tay của công nhân và sử dụng ảnh/phim long exposure để theo dõi chuyển động của họ. Cường độ của đèn trong những hình ảnh cho thấy những hành động thiếu hiệu quả làm chậm cả dây chuyền sản xuất. Những nghiên cứu này không chỉ bắt đầu trở thành thước đo/ miêu tả của hiệu suất, mà còn cung cấp thông tin chính xác về điều này. Chúng mang tính định tính thay vì định lượng, cho phép tham số công năng của một hành động cụ thể có thể được củng cố và đẩy nhanh dây chuyền sản xuất. Sau này, quá trình tương tự được áp dụng cho nhà ở và đột nhiên lượng thời gian mất đi bởi những động tác “thừa” và những lối đi không hiệu quả có thể được thị giác hóa. Bếp, cụ thể, đươc thiết kế lại xung quanh việc tối ưu quá những công việc của một người phụ nữ làm nội trợ ( housewife)  ( Bếp Frankfurt, 1926) để giảm tải hành động thừa và dẫn tới việc chuẩn bị đồ ăn dễ dàng hơn. Việc loại bỏ sự “thừa” cho phép một giảm tải cấp tiến về không gian trong một ngôi nhà xuống đến những kích thước tối thiểu và chuẩn hóa.

Ngày nay khi chúng ta nhìn vào Công Năng của một Công Trình, chúng ta phải nghĩ ngay đến những tham số vô hình dẫn tới sự hình thành của Công trình đó thay vì những tham số liên quan đến sự trú ngụ bên trong (Chương trình). Tài chính, Kế hoạch, Luật lệ, tiêu chuẩn và những yếu tố môi trường là tất cả những tham số Công Năng làm ảnh hưởng đến Chương Trình và Phom. Ví dụ, điều lệ của hiện trạng tài chính của một công trình – cho dù nó là những xây dựng đầu cơ hướng tới thị trường bất động sản, cho thuê lâu dài, nhà ở xã hội hay đồng sở hữu – đều có những hệ lụy tới sản phẩm kiến trúc. Cũng như việc Bếp chứa việc Nấu Ăn nhưng Nấu Ăn không cần Bếp, Công Năng không bao giờ trực tiếp thúc ép một thiết kế ( trong nghĩa này, nó không bao giờ trực tiếp quyết định mặt bằng hay thẩm mỹ). Thay vào đó, nó chỉ đặt ra những hiện trạng và tham số, kết hợp với nhau để quyết định những giới hạn sáng tạo (creative limitation) cho một dự án.

Chủ nghĩa Công năng (Functionalism) là niềm tin không gian có thể được thiết kế xung quan việc điều tiết “Công Năng”(Chương Trình). Nó đứng đối nghịch với Chủ nghĩa Duy Lý (Rationalism) khi mà những thiết kế dựa theo những tỷ lệ trừu tượng được tách biệt ra khỏi những kích thước nhân học. Le Corbusier diễn tả Kiến trúc như Âm nhạc đóng băng, điều này nghe thật tím tái. Nhưng ở thời điểm đó, điều này được coi là hiển nhiên; tỷ lệ tạo nên kích thước bắt mắt nghiễm nhiên được cho là hài hòa. Trung bình hài hòa của hai độ dài (b=2ac/(a+c)) là một tỷ lệ quan trong của thời kỳ Palladian, được du nhập từ âm nhạc. Ví dụ một Trung bình Hài hòa của (Harmonic Mean) của 12 và 6 là 8 khi mà Trung bình này hơn độ dài nhỏ theo tỷ lệ 1/3 và ít hơn độ dài lớn cũng với tỷ lệ 1/3. Một số KTS, đặc biệt những kts bị ảnh hưởng bởi Palladio có thể rất áp đặt trong việc sử tỉ lệ chính xác. Đối nghịch với điều này, KTS người Hà Lan thời Tiền-Hiện-đại H.P Berlage cảm thấy không quan trọng bạn dùng hệ thống tỷ lệ nào – không có sự khác biệt nào khi mà bạn dựa thiết kế của mình trên Tỷ Lệ Vàng hay tỷ lệ 3:4 của vô tuyến. Điều có thể được nhận biết bởi con mắt đơn giải chỉ là hệ thống nội tại có nhất quán hay không. Xuất phát điểm của những tỷ lệ đo đạc có thể phi lý nhưng chúng có thể được áp dụng một cách hợp lý để tạo nên sự hòa hợp.

Phom ( Form) 

Khuôn khổ cuối cùng là Phom, thứ mà ( theo một cách tự nhiên) đi theo Công Năng. Qua ba phần trên chúng ta đã từ từ loại bỏ một số từ khó hiểu trong việc thiết kế. Phong cách (Style) là sản phẩm của Thẩm Mỹ. Công Năng (Function) không còn mang ý nghĩa nó từng có và sẽ được đại diện một cách tốt hơn bởi Chương Trình ( Programme). Trong khi đó, Công Năng thực tế chỉ là những hàm số liệu và tham số liên quan. Vậy còn lại gì cho Phom?

Phom, trong Kiến trúc, đầu tiên là bản vẽ mặt bằng. Phom là kết nối không gian của Công Năng, Chương Trình và Thẩm Mỹ. Nó thường bị kết hợp với Phong Cách nhưng hai khái niệm này không liên quan. Như chúng ta đã thấy, Phong cách là Sự Diễn Cảm của Đạo Đức và do đó nó về bản chất không mang tính không gian. Phom chỉ đơn thuần về không gian. Cách tốt nhất để nghĩ về Phom là nghĩ về nó như DNA của một thiết kế. Và cũng giống như quá trình tiến hóa, một một thế hệ sẽ tạo ra một sự biến đổi, một số sẽ phản ứng tốt hơn với môi trường mới, và một số sẽ nhanh chóng trở nên dư thừa. Những Phom mới và thành công không phải là quái vật (monster)( nghĩa đen của mono trong Monster là “Chỉ có Một” ) mà là một phiên bản lập lại được xây dựng trong quá trình lịch sử lâu dài. Chúng ta gọi Phom tiến hóa này là Typology.

Sự phân loại và cách phân loại Typology của một chủng loại là chủ đề mở cho tranh luận. Ví dụ, một nhánh của Khách Sạn được tiến hóa từ nhà nghỉ của tu viện. Ngay cả khi Chương Trình, Công Năng, Thẩm Mỹ đã thay đổi một cách đáng kể theo thời gian, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy hình thái sống của tu viện trong một khách sạn. Tuy nhiên có một nhánh khác khi mà khách sạn được phát triển từ những biệt thự quý tộc Pháp của thế kỷ 15, thứ mà tương tự được hình thành từ villa ở nông thôn. Villa là một typology mang tính kiểm soát lãnh thổ và sản xuất nông nghiệp; tuy nhiên nó cũng được thiết kế để phân chia công việc để phục vụ Quan lại. Villa được thiết kế để tạo ra một cảm giác cuộc sống nông thôn đẹp, thuần khiết và dễ dàng. Đây là nơi mà Khách Sạn lấy những ngôn ngữ biểu thị  của sự sang trọng và an nhàn. Khách sạn hiện đại là sản phẩm của sự va đập của hai typologies khác nhau,  tiến hóa từ nhiều chủng loại typology trước và xa hơn nữa. Sự hội tụ và phân kỳ của typologies, và kể cả sự giao phối của chúng là không mạch lạc. Trong quá trình này Phom có thể thu nhập những DNA rác từ những tục lệ thừa thãi  (Lò sưởi ở đô thị) cho đến sự giả tạo (đèn chandelier điện)

Không một Phom nào là tuyệt đối. Tất cả Phom đều có điểm khởi đầu, ngay cả khi nó khó có thể được xác định một cách chính xác. Những Phom tốt nhất không tìm cách tách biệt ra khỏi quá khứ hoàn toàn – thay vào đó, chúng là sự thích ứng của những Phom hiện tại cho một vai trò mới. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng tất cả các Phom đều là phát minh và không có gì là Phom “truyền thống” . Mỗi một thế hệ đều tái-phát minh quá khứ để thích ứng với Tương Lai.

Sự Quan Tâm ở Mỹ với chủ nghĩa Kinh Điển (Classicism) là lỗ thời một cách kỳ lạ với nhiều người Châu Âu. Nhưng sự ám ảnh này chỉ xảy ra với giai cấp trung lưu và thương lưu như một nỗ lực để bảo tồn những phân cấp xã hội cổ điển. Kiến trúc Kinh điển ( Classical) là một trong những vũ khí của việc phân cấp giai tầng và hệ thống xã hội.

Không có một Phom nào là vô tội và không có một lời giải tự nhiên nào về Phom cả: Bếp Hiện Đại được phát mình năm 1926 bởi Margarete Schulte Lihotzky, Phong ngủ một người được phát minh bởi Henry Roberts giữa thế kỷ 19, hành lang là sản phẩm phát minh của thế kỷ 17. Tất cả những yếu tốt trong ngôi nhà của bạn và tất cả những công trình bạn đã từng thấy đều là sản phẩm của một thiên niên kỷ thiết kế phân loại form.

Đó là những điều bạn nên nghĩ về Kiến trúc.

Nghĩ về Phom sau giờ làm việc

“Kiến trúc không phải về Phom/ Architecture is not about Form” – Peter Zumthor

ml_lacma_aerial_15_1024

Los Angeles County Museum Art proposal by Peter Zumthor

Phom (form) xuyên suốt lịch sử kiến trúc là một trong những chủ đề tương đối khó nói, khi mà đa số cộng đồng KTS quốc tế nói chung và KTS Việt Nam hay Châu Á nói riêng ,vẫn bị ảnh hưởng và níu kéo di sản được để lại của Kiến trúc hiện đại những năm 20. Cái bóng của Chủ nghĩa Công Năng Hiện Đại ( Functional Modernism ) cùng với  tuyên đề Form follows function dường như là quá lớn. Cũng giống như những KTS mà không chấp nhận những điều lệ về công năng, khao khát thiết kế một cái gì đấy ngoài cái hộp, Sợi Chỉ, trong khi hành nghề cũng gặp phải vô số những câu hỏi “Làm sao để kiểm soát phom?””Phom đấy từ đâu ra””Phom đấy có ý nghĩa gì” v.v Những câu hỏi này càng trở nên khó khăn để trả lời đặc biệt khi nền kiến trúc thế giới đã chuyển hướng sang lý lẽ trong quá trình suy nghĩ, rời xa khỏi cái gọi là Kiến trúc tượng trưng (representation) ; ví dụ như những cung vòm của Kiến trúc Gothic làm cho trần của các cathedral cao hơn và làm cathedral dường như thành ngôi nhà của chúa trời hay là khi các KTS thiết kế cái nhà cao tầng như bông sen vì được truyền cảm hứng khi nhìn thấy bông sen đung đưa trong gió v.v…

Theo cách nhìn nhận đại trà thì phom là duy lý trí và cảm tính. Quan niệm này kết hợp với bối cảnh nói ở trên làm cho KTS, khi không thể lý giải cho phom của mình, ngại  thiết kế một cái gì đó khác biệt, hoặc là họ sẽ post-rationalise, giải thích phom sau khi thiết kế đã hoàn thành theo cách không ăn nhậm gì với quá trình thiết kế. Mỗi KTS đã thành danh có một cách hay một position khác nhau khi phải đối mặt với những câu hỏi nói trên. OMA và Rem trong những ngày đầu sử dụng chính diagram thu thập được trong qua trình nghiên cứu dự án và biết nó thành phom ( lí do vì sao người ta gọi OMA là diagramatic architecture). Frank Gehry, bản thân là một nghệ sỹ, không quan tâm đến các vấn đề khác ngoài bố cục, tỷ lệ, không gian và từ đó chuyển thể trực tiếp những mô hình cỡ nhỏ sang công trình Kiến trúc, có lẽ với Gehry Kiến trúc đơn giản là phom. Sou Fujimoto quay trở về với cái mà ông gọi là Primitive Architecture, những cái cơ bản nhất, tiền sử nhất để rồi đưa ra cách thiết kế của mình ( mặc dù cái Sou nói và cái Sou thiết kế hay không ăn nhập với nhau dẫn đến việc những tư tưởng của Sou hay bị đánh giá là không chắc chắn và mông lung). Zaha Hadid là một Formalist nhưng cách mà Zaha nghĩ về Phom không phải vì bản chất của phom mà đó là cách mà Zaha diễn dịch khái niệm trừu tượng của cuộc sống. Những quan điểm này của Zaha có lẽ vẫn bị nặng theo cách nghĩ của Malevich’s Suprematism và ảnh hưởng từ Elia Zenghellis khi còn ở AA. Về phần sau này thì với sự tham gia của Patrik Schumacher, Parametricism được hình thành với agency, parameter v.v… thì đây là một trong những nỗ lực trong Kiến Trúc về việc một KTS tìm cách kiếm soát phom và ý chí của Phom. v.v….

1481833900

Canales Lombardero

Cách đây khoảng một tuần thì Sợi Chỉ có dự một buổi thuyết trình New Formalism ( ý là một trường phái Phom mởi, tránh hiểu lầm với New Formalism của những năm 60 với KTS tiêu biểu như Phillip Johnson hay Minoru Yamasaki) của Canales Lombardero ( KTS  đang giảng dạy năm 3 ở AA) Nhìn chung thì mặc dù là một công ty thiết kế giỏi nhưng Canales Lombardero chưa nói được nên một ý nghĩa gì mới về mặt học thuật. Tuy nhiên buổi thuyết trình thực sự có lẽ đặt ra câu hỏi nghiêm túc về Phom đặc biệt là Cái gì là khác biệt giữa Phom mới và Phom cũ ( what is the difference between New Formalism and Old Formalism?) Liệu có cách nào để chúng ta hiểu Phom một cách rõ hơn hay chỉ còn  cách là suy nghĩ về nó một cách độc lập trên phương diện triết học ( như cách mà chúng ta làm với nghệ thuật trừu tượng) Khi mà nhiều KTS quay trở về với Phom  cơ bản thì, một cách nghịch lý, việc nghiên cứu về Phom sẽ trở nên vô cùng thú vị.

Nhắc đến Phom, một KTS mà Sợi Chỉ theo dõi đã lâu, người mà không có nổi một trang Web hay thông tin trên mạng là Smiljan Radic. Có lẽ đây sẽ là một case study mà SC sẽ viết một bài riêng đơn giản vì Kiến Trúc của Smiljan vô cùng thú vị và khác biệt.

There is something about him that is incredibly interesting.

Dưới đây là một số hình ảnh các dự án của Smiljan Radic

serpentine-gallery-pavilion-2014-by-smiljan-radic_dezeen_03

025b3f1321caf786d614ef731c9f188d

radic_6_body

smiljan-radic-bus-stop-krumbach-1

adb91dfabf587bf187921979fa4d3c24

Ảnh nguồn từ Internet